Những bất cập trong quy định của BLHS về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự và hướng sửa đổi, bổ sung

xam pham danh du nhan pham

1. Quy định về tình tiết định tội:

     Thứ nhất, về Tội hiếp dâm (Điều 111): được áp dụng cho hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ. Trên cơ sở quy định của Bộ Luật hình sự, hầu hết quan điểm cho rằng, chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể đặc biệt – nam giới; hành vi khách quan của tội này là hành vi giao cấu trái ý muốn của người phụ nữ bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được hoặc bằng thủ đoạn khác.
      Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng: chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể thường  (nam hoặc nữ) có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định; hành vi khách quan của tội này là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được hoặc hành vi khác và hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân”. Quan điểm thứ ba tuy đồng ý chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể thường có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định; nhưng cho rằng, hành vi khách quan của tội này là hành vi giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý muốn của nạn nhân bằng một trong các thủ đoạn: dùng vũ lực; đe doạ dùng vũ lực; lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân; lợi dụng tình trạng không thể biểu lộ được ý chí của nạn nhân; tạo ra tình trạng không thể tự vệ được hoặc không thể biểu lộ được ý chí ở nạn nhân.
       Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ ba vì:

       + Về lý luận, nữ giới cũng có thể phạm tội hiếp dâm thông qua hành vi giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý muốn của nam giới bằng thủ đoạn tạo ra tình trạng không thể tự vệ được hoặc không thể biểu lộ được ý chí ở nạn nhân như cho nạn nhân uống thuốc mê, thuốc kích thích…
       + Về thực tiễn, vài năm gần đây ở nước ta đã xuất hiện một số trường hợp nữ giới dùng thủ đoạn tạo ra tình trạng không thể tự vệ được hoặc không thể biểu lộ được ý chí ở nam giới để giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý muốn của nam giới nhưng không bị trừng trị về tội hiếp dâm, dẫn đến bỏ lọt tội phạm;
       + Qua nghiên cứu luật hình sự một số nước: Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ, Thụy Điển…hầu hết các nước đều quy định chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể thường (nam hoặc nữ);
       + Về bản chất, tội hiếp dâm là hành vi giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý muốn của nạn nhân, chứ không phải là hành vi dùng vũ lực; đe doạ dùng vũ lực; lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân; lợi dụng tình trạng không thể biểu lộ được ý chí của nạn nhân; tạo ra tình trạng không thể tự vệ được hoặc không thể biểu lộ được ý chí ở nạn nhân (đây chỉ là những thủ đoạn để thực hiện hành vi giao cấu).
       Vì vậy, đề nghị sửa lại tình tiết định tội trong tội hiếp dâm, gồm chủ thể và hành vi, thủ đoạn thuộc mặt khách quan như sau: 
       1.Quy định rõ chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể thường (bất cứ người nào, có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định); 

       2. Quy định hiếp dâm là hành vi giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý muốn của nạn nhân bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác; 
       3. Bổ sung cụm từ hoặc không có ý muốn của họ để tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm vì không chứng minh được dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân; 
       4. Điều luật được sửa đổi thành: “1. Người nào giao cấu trái ý muốn hoặc không có ý muốn của người khác bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác,…”.
      Thứ hai, về Tội cưỡng dâm (Điều 113): cần sửa lại tình tiết định tội, bao gồm cả chủ thể và hành vi, thủ đoạn thuộc mặt khách quan (giống như Tội hiếp dâm). Đồng thời, quy định rõ cưỡng dâm là hành vi giao cấu với người khác có sự miễn cưỡng đồng ý của họ bằng thủ đoạn uy hiếp tinh thần; bỏ cụm từ dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách cho dễ hiểu, dễ áp dụng và dễ chứng minh về mặt tố tụng bởi, về mặt lý luận cũng như thực tiễn để xác định đúng thế nào là trong tình trạng quẫn bách là rất khó.
       Như vậy, điều luật được sửa đổi thành: “1. Người nào giao cấu với người khác có sự miễn cưỡng đồng ý của họ bằng thủ đoạn uy hiếp tinh thần,…”.
      Thứ ba, về Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115): cần sửa lại tình tiết định tội theo hướng quy định rõ giao cấu với trẻ em là hành vi giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoàn toàn có sự đồng ý của họ. Việc sửa đổi này không những tạo ra sự thống nhất giữa Tội giao cấu với trẻ em với Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm (mới) mà còn rõ ràng hơn, giúp phân biệt Tội giao cấu với trẻ em với các tội khác như: cưỡng dâm trẻ em, hiếp dâm trẻ em, dâm ô với trẻ em và mua dâm người chưa thành niên.
      Điều luật mới được sửa đổi thành: “1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoàn toàn có sự đồng ý của họ,…”.
      Thứ tư, về Tội mua bán phụ nữ và Tội mua bán trẻ em (Điều 119, 120): cần gộp lại thành một tội với tội danh là Tội mua bán người để khắc phục tình trạng bỏ lọt hành vi mua bán người không phải phụ nữ, cũng không phải là trẻ em và nhằm trừng trị nghiêm hành vi mua bán người đang có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Giữ lại Tội đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em tại Điều 120 của BLHS.
      Thứ năm, về Tội làm nhục người khác (Điều 121): cần bỏ cụm từ “nghiêm trọng” trong cấu thành tội phạm cơ bản. Bởi lẽ: 1) Đây là tội phạm có cấu thành hình thức nên nếu quy định như hiện nay sẽ dẫn đến hiểu lầm đây chính là hậu quả của tội phạm. 2) Tội làm nhục người khác có hậu quả là thiệt hại về tinh thần nên rất khó chứng minh về tố tụng; khó xác định hành vi làm nhục khi nào là nghiêm trọng, khi nào chưa nghiêm trọng, do đó, bỏ cụm từ “nghiêm trọng” sẽ giúp cho việc áp dụng Điều 121 được dễ dàng và thống nhất. Tuy nhiên, để phân định ranh giới giữa có tội làm nhục người khác với chưa có tội làm nhục người khác, chúng tôi cho rằng, cần bổ sung cụm từ thường xuyên vào trước cụm từ xúc phạm.
       Điều luật mới nên quy định là: “1. Người nào thường xuyên xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo,…”.
      Thứ sáu, về Tội vu khống (Điều 122): cần bỏ cụm từ “nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” trong cấu thành tội phạm cơ bản. Bởi lẽ,  nếu để dấu hiệu này thì rất khó chứng minh về tố tụng nên rất dễ dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc xử oan người vô tội. Tuy nhiên, để điều luật ngắn gọn, đủ ý mà không bỏ lọt tội phạm, chúng tôi cho rằng, cần bỏ cả cụm từ “hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền” trong cấu thành tội phạm cơ bản của Tội vu khống và chuyển sang cấu thành tội phạm tăng nặng với tính chất là tình tiết tăng nặng định khung.
      Điều luật mới được sửa đổi thành:
 “1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt về người khác,… 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm: a) Có tổ chức;… e) Vu khống người khác phạm tội”.
2. Quy định về tình tiết định khung
    Thứ nhất, về Tội hiếp dâm (Điều 111): trên cơ sở đối chiếu với các tội có sử dụng bạo lực như Giết người, Cố ý gây thương tích, Cướp TS và tình hình tội phạm hiếp dâm hiện nay, cần bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại các điểm i, k, l, m, n, o, p, q, r, s, t, u dưới đây và bổ khoản 2 (mới), Điều 111 tình tiết tăng nặng định khung gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác. Bổ sung tình tiết hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng khác vào điểm h, khoản 2, Điều 111 (cũ), tình tiết hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác vào điểm a, khoản 3, Điều 111 (cũ) cho thống nhất với quy định tại Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhằm thu hẹp khoảng cách tối đa và tối thiểu của khung hình phạt, thể hiện rõ nguyên tắc phân hóa TNHS, không bỏ lọt những trường hợp phạm tội nguy hiểm và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hiếp dâm trong giai đoạn hiện nay.
        Điều luật mới được sửa  thành:
“1. Người nào…;
2. Phạm tội gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt…
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt…: a)…; h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng khác; i) Tái phạm nguy hiểm; k) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; l) Làm nạn nhân mất khả năng mang thai và sinh con; m) Phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; n) Phạm tội đối với người nuôi dưỡng mình; o) Phạm tội đối với thầy giáo, cô giáo của mình; p) Phạm tội đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; q) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; r) Thuê hiếp dâm hoặc hiếp dâm thuê; s) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; t) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; u) Vì động cơ đê hèn.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt…
a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;…”.
    Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112), Cưỡng dâm (Điều 113), Cưỡng dâm trẻ em (Điều 114), Giao cấu với trẻ em (Điều 115), Dâm ô đối với trẻ em (Điều 116), Làm nhục người khác (Điều 121), Vu khống (Điều 122) cũng nên sửa theo hướng này.
      Thứ hai, về Tội mua bán người (mới): cần bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung thuộc điểm g, h, i, k, l, m, n, o, p, q, r, s, Khoản 2 sau đây cho phù hợp với tình hình tội phạm mua bán người hiện nay và thống nhất với các tội (mới) thuộc chương này như: Hiếp dâm, Hiếp dâm trẻ em, Cưỡng dâm, Cưỡng dâm trẻ em, Giao cấu với trẻ em, Dâm ô đối với trẻ em. Bổ sung Khoản 3, Điều 119 tình tiết tăng nặng định khung gây hậu quả rất nghiêm trọng và Khoản 4, Điều 119 tình tiết tăng nặng định khung gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhằm phân hóa cao hành vi phạm tội trong các trường hợp nguy hiểm. Bổ sung Khoản 5, Điều 119 hình phạt bổ sung như Điều 120 nhằm hỗ trợ cho hình phạt chính và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với tội phạm nguy hiểm này.  
      Điều luật mới được sửa đổi thành:
“1. Người nào mua bán người thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm:… g) Vì động cơ đê hèn; h) Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo; i) Tái phạm nguy hiểm; k) Gây hậu quả nghiêm trọng; l) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; m) Phạm tội với trẻ em, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; n) Phạm tội đối với ông bà, cha mẹ, vợ chồng của mình; o) Phạm tội đối với người nuôi dưỡng mình; p) Phạm tội đối với thầy giáo, cô giáo của mình; q) Phạm tội đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; r) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; s) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 đến 20 năm.
4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù 15 đến 20 năm hoặc tù chung thân.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc phạt quản chế từ  1 năm đến 5 năm”.
     Thứ ba, về Tội đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (mới): cần bổ sung Khoản 3, Điều 120 tình tiết tăng nặng định khung gây hậu quả rất nghiêm trọng và Khoản 4, Điều 120 tình tiết tăng nặng định khung gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhằm phân hóa cao hành vi phạm tội trong các trường hợp nguy hiểm này và thu hẹp khoảng cách giữa mức tối đa và mức tối thiểu của khung hình phạt.
      Như vậy, Khoản 2, Khoản 3 điều luật mới sẽ là:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm: …
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm.
4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân”.
Thứ tư, về Tội vu khống (mới): cần bổ sung vào khoản 2, Điều 122 tình tiết tăng nặng định khung vu khống người khác phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng; bổ sung vào khoản 3, Điều 122 tình tiết tăng nặng định khung vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng và khoản 4, Điều 120 tình tiết tăng nặng định khung gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhằm phân hóa cao hành vi phạm tội trong các trường hợp nguy hiểm này, cụ thể:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm: … e) Vu khống người khác phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 7 năm.
4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 10 năm”.
3. Quy định về hình phạt
     Thứ nhất, theo quy định hiện nay, hình phạt của Tội hiếp dâm thấp hơn nhiều so với Tội cướp tài sản. Điều này là không hợp lý vì Tội hiếp dâm có tính nguy hiểm cho xã hội tương đương Tội cướp tài sản vì chúng cùng xâm phạm đến khách thể rất quan trọng – quan hệ nhân thân. Vì vậy, đề nghị nâng hình phạt đối với Tội hiếp dâm (mới) lên ngang bằng với hình phạt của Tội cướp tài sản. Ngoài ra, bổ sung hình phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm vào Tội hiếp dâm trên cơ sở so sánh với quy định tại khoản 5, Điều 133 của Tội cướp tài sản nhằm đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt.
      Điều luật mới được sửa đổi thành:
“1. Người nào giao cấu với người khác trái ý muốn hoặc không có ý muốn của họ bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến 20, tù chung thân hoặc tử hình:
5. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp qui định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt qui định tại các khoản đó.
6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm, bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm”.
     Tội hiếp dâm trẻ em, Cưỡng dâm, Cưỡng dâm trẻ em cũng nên sửa theo hướng này.
     Thứ hai, theo quy định của BLHS, hình phạt của Tội làm nhục người khác lại ngang bằng với Tội hành hạ người khác và thấp hơn nhiều so với Tội vu khống. Điều này là bất hợp lý. Bởi lẽ, Tội làm nhục người khác có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn Tội hành hạ người khác và gần tương đương với Tội vu khống vì Tội làm nhục người khác xâm phạm đến khách thể quan trọng hơn khách thể của Tội hành hạ người khác – nhân phẩm, danh dự của con người.
    Vì vậy, đề nghị nâng hình phạt đối với Tội làm nhục người khác (Điều 121) lên cao hơn hình phạt của Tội hành hạ người khác (Điều 110) theo hướng: 
“1. Người nào thường xuyên xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm:”…
TS. Nguyễn Quang Hiền – Ban Thư ký Bộ Tư pháp.  (http://www.nclp.org.vn/)

2 Responses to Những bất cập trong quy định của BLHS về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự và hướng sửa đổi, bổ sung

  1. Luat nói:

    không nên dùng cụm từ: Mà biết có thai. Nếu Ko biết thì sao .Làm sao chúng minh là biết .NÊN DÙNG CỤM TỪ : ĐANG CÓ THAI.

  2. Luat nói:

    không nên dùng cụm từ: Mà biết có thai. Nếu Ko biết thì sao .Làm sao chúng minh là biết .NÊN DÙNG CỤM TỪ : ĐANG CÓ THAI.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: